Đất đồi feralit đỏ vàng ở trung du và miền núi phía Bắc khá hợp với tính ưa ráo của sâm thổ hào vì thoát nước tốt, nhưng thường chua, nghèo mùn và dễ xói; muốn trồng được củ khá cần làm ba việc: kiểm độ chua và bón vôi ở mức vừa, bù thật nhiều chất hữu cơ, và làm luống theo đường đồng mức để giữ đất.
Nhiều người ở Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Ninh (gồm Bắc Giang cũ) hay Thanh Hóa có sẵn một khoảnh đồi đang để keo, chè, sắn hoặc bỏ hoang, và muốn thử sâm thổ hào ở đó. Bài này đi từ cách tự đọc đất đồi bằng mắt và tay, cách đo chua, đến cách cải tạo dần qua từng vụ. Mọi con số về độ chua hay lượng vôi dưới đây chỉ là khoảng phổ thông; đất mỗi nơi khác nhau nên luôn bắt đầu bằng một luống thử.
Đất đồi đỏ vàng có gì hợp, gì không hợp với sâm thổ hào
Đất feralit hình thành qua thời gian dài phong hoá đá mẹ trong khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều rửa trôi các chất kiềm, để lại nhiều sắt và nhôm, vì thế có màu đỏ vàng và thường chua. Trên đồi, đất này có lợi thế lớn: nằm trên dốc nên nước mưa thoát nhanh, tầng đất thường dày, ít khi úng. Với một cây sợ ngập gốc như sâm thổ hào, đó là điểm cộng mà đất ruộng đồng bằng không có.
Mặt trái là đất chua làm một số chất dinh dưỡng khó hấp thu, rễ non phát triển kém, đồng thời đất đồi qua nhiều năm trồng sắn, trồng keo liên tục thường đã mất lớp mùn mặt. Đất nghèo mùn thì giữ ẩm kém trong mùa khô hanh, đóng cứng khi khô, dễ bị nước mưa cuốn đi khi mưa to. Củ sâm cần đất tơi để phình ra; trong đất chặt, nghèo, củ thường nhỏ, nhiều rễ xơ, hình dạng cong queo.
Tóm gọn cho người trồng: đất đồi giải quyết được nỗi lo úng, nhưng đặt ra bài toán độ phì. Bài toán độ phì thì cải tạo được bằng công sức qua vài vụ, còn bài toán úng ở đất trũng nhiều khi phải đổi chỗ mới giải quyết được.
Tự đọc đất đồi của mình bằng mắt và tay
Trước khi tốn tiền phân, tiền vôi, anh chị dành một buổi đi xem đất. Đào vài hố nhỏ sâu khoảng một gang tay rưỡi đến hai gang ở đỉnh, sườn và chân đồi, rồi để ý những điều sau:
- Màu lớp mặt: lớp trên cùng sẫm màu, nâu đen, dày vài đốt ngón tay là còn mùn; đỏ vàng ngay từ mặt là đất đã bạc.
- Độ tơi: bóp nắm đất ẩm, đất tơi vỡ thành hạt nhỏ là tốt; đất dính thành khối dẻo là nặng sét; đất rời rạc như cát là nhẹ, giữ nước kém.
- Sỏi đá, đá ong: gặp tầng sỏi, kết von hay đá ong ở nông thì củ khó đâm xuống, chỗ đó không nên chọn.
- Cỏ mọc tự nhiên: đồi chỉ có sim, mua, guột, cỏ tranh thường là đất chua và nghèo; chỗ cỏ mềm, xanh tốt thường đất khá hơn.
- Vết xói: rãnh nhỏ chạy dọc sườn, rễ cây trơ ra là dấu đất đang bị cuốn đi mỗi mùa mưa.
- Khác biệt đỉnh, sườn, chân: đỉnh đồi thường khô và bạc nhất, chân đồi dày đất hơn nhưng có thể ẩm, sườn giữa thường là chỗ cân bằng.
Ghi những gì thấy được ở từng hố. Thường anh chị sẽ nhận ra khoảnh sườn giữa, hướng đón nắng sáng, đất dày, ít sỏi là chỗ nên đặt luống thử đầu tiên. Đỉnh đồi bạc màu có thể dùng sau khi đã cải tạo vài vụ.
Đo chua và bón vôi: làm theo nguyên lý, thử nhỏ trước
Sâm thổ hào thường được trồng trên đất hơi chua đến gần trung tính. Đất đồi miền Bắc nhiều nơi chua hơn mức đó, nhưng không phải nơi nào cũng vậy, nên phải đo rồi mới bón vôi.
- Lấy mẫu đất ở nhiều điểm trên lô, mỗi điểm một nắm ở tầng đất sẽ trồng, trộn đều thành một mẫu chung.
- Đo độ chua bằng bộ que thử, giấy thử hoặc máy đo cầm tay; nếu có điều kiện, gửi mẫu cho trạm khuyến nông hoặc phòng thí nghiệm đất để có kết quả đáng tin hơn.
- Nếu đất chua rõ rệt, hỏi cán bộ khuyến nông về loại vôi và lượng bón phù hợp với loại đất và kết quả đo; bón vôi bột hoặc vôi nông nghiệp rải đều rồi trộn vào đất khi làm đất.
- Bón vôi trước khi trồng ít nhất vài tuần, không bón vôi cùng lúc với phân chuồng tươi hay phân đạm vì dễ mất đạm và hại rễ non.
- Chỉ bón vôi cho luống thử năm đầu; năm sau đo lại, so cây ở luống có vôi và luống không vôi rồi mới quyết định bón cho cả lô.
- Bón vôi theo từng đợt nhỏ qua các năm thay vì một lần thật nhiều; bón quá tay đẩy đất sang kiềm, lại sinh chuyện khác.
Vôi không phải phân bón mà là chất điều chỉnh đất. Nó giúp rễ hút được dinh dưỡng có sẵn, nhưng không thay được phân hữu cơ. Đất đồi bạc màu mà chỉ bón vôi thì vẫn nghèo.
Thêm mùn cho đất đồi bạc màu
Phân chuồng hoai là nền. Với đất đồi nghèo, lượng phân hữu cơ bón lót cho luống sâm cần nhiều hơn hẳn so với trồng trên đất vườn tốt. Phân phải hoai kỹ, không còn mùi hăng, cầm không nóng tay. Trộn đều trong tầng đất củ sẽ phình ra, không chỉ rải trên mặt.
Tận dụng phụ phẩm tại chỗ. Đồi thường có sẵn lá keo, cành lá chè đốn, thân lá lạc, đậu, rơm rạ mang từ ruộng lên. Ủ đống hoặc vùi trực tiếp vào rãnh giữa luống, sau một mùa sẽ thành mùn. Đây là nguồn rẻ nhất và bền nhất.
Trồng cây phân xanh xen kẽ. Trên phần đồi chưa trồng sâm, gieo các cây họ đậu làm phân xanh trong mùa mưa rồi cắt vùi. Đất được che phủ, bớt xói, lại thêm đạm và mùn cho vụ sau.
Giữ lớp phủ quanh năm. Mặt đất đồi để trống dưới nắng hè và mưa rào là mất mùn nhanh nhất. Tủ rơm, cỏ khô, lá cây trên mặt luống giữ ẩm mùa khô, đỡ mưa đập mùa mưa, và mục dần thành mùn.
Kiên nhẫn qua nhiều vụ. Đất đồi bạc màu không thành đất tốt trong một năm. Thường phải qua hai ba vụ bón hữu cơ đều đặn mới thấy đất sẫm màu, tơi hơn, củ đẹp hơn. Đó là lý do nên bắt đầu nhỏ và mở rộng dần trên phần đất đã được cải tạo.
Luống theo đường đồng mức và chống xói
Trên đất dốc, luống chạy thẳng từ đỉnh xuống chân đồi là luống dẫn nước. Mỗi trận mưa to, nước gom vào rãnh, chảy xiết, cuốn theo lớp đất mặt anh chị vừa cải tạo, có khi làm trơ cả củ. Luống đúng phải chạy ngang sườn, theo đường đồng mức, tức là những đường nối các điểm có cùng độ cao. Nước mưa gặp luống ngang sẽ bị chặn lại, ngấm dần vào đất thay vì chảy tràn.
Cách xác định đường đồng mức đơn giản ở vườn nhà là dùng thước chữ A tự làm bằng ba thanh tre và một quả dọi, hoặc ống nhựa trong đổ nước làm thước thăng bằng. Cắm cọc đánh dấu từng đoạn ngang sườn, nối lại thành đường, rồi đắp luống theo đường đó. Luống không cần thẳng tắp, cứ uốn theo sườn đồi.
Với sườn dốc hơn, nên làm bậc thang nhỏ, mỗi bậc một hai luống, mép ngoài bậc trồng cỏ hoặc cây bụi thấp giữ bờ. Rãnh giữa các luống vẫn cần thoát nước, nhưng nên hơi nghiêng về một phía và dẫn ra một rãnh chính có lót đá hoặc cỏ, tránh nước đổ thẳng xuống sườn. Trên đỉnh và chân đồi giữ lại một băng cây hoặc cỏ tự nhiên, đừng phát trắng cả đồi.
Mùa hanh khô trên đồi: giữ ẩm cho luống
Đất đồi thoát nước tốt thì cũng khô nhanh. Ở trung du miền Bắc, cuối thu và mùa đông thường có những đợt hanh khô kéo dài, gió bấc thổi mạnh trên đỉnh đồi, lớp đất mặt khô trắng chỉ sau vài ngày. Bắc Trung Bộ thì đầu hè có thêm gió Lào. Trên đồi lại hay xa nguồn nước, gánh nước tưới tay rất vất vả, nên giữ ẩm bằng đất và lớp phủ quan trọng hơn tưới nhiều.
Đất nhiều mùn giữ được ẩm lâu hơn đất bạc, nên công bón hữu cơ ở phần trên cũng là công chống hạn. Lớp tủ dày bằng rơm, cỏ khô, lá keo trên mặt luống giảm bốc hơi rõ rệt. Đặt luống ở sườn khuất gió bấc, hoặc trồng một hàng cây chắn gió thấp như cốt khí, muồng ở phía đón gió, cũng giúp đất bớt khô.
Nếu có điều kiện, đào một hố hoặc ao nhỏ trữ nước mưa ở chỗ cao hơn luống một chút, dẫn nước bằng ống xuống tưới gốc, hoặc dùng tưới nhỏ giọt đơn giản. Tưới ít nhưng đều, vào sáng sớm, và nhớ rằng mùa đông cây đang nghỉ thì chỉ cần giữ đất không khô kiệt, không cần tưới nhiều như mùa lớn lá.
Ba kiểu đất đồi thường gặp ở miền Bắc
Đất đồi miền Bắc không giống nhau. Bảng dưới gom ba kiểu hay gặp ở trung du, dựa vào những gì người trồng nhìn thấy được; để biết chắc đất mình thuộc loại nào, hỏi khuyến nông hoặc tra bản đồ thổ nhưỡng của địa phương.
| Kiểu đất | Nhận biết tại chỗ | Điểm lợi | Điểm cần làm |
|---|---|---|---|
| Đất đỏ vàng trên đá phiến, đá sét | Màu đỏ vàng, mịn, dính khi ướt, cứng khi khô | Giữ ẩm và dinh dưỡng khá | Thêm hữu cơ, làm luống cao, xới phá váng sau mưa |
| Đất vàng nhạt trên đá cát | Màu vàng nhạt, nhiều hạt cát, rời rạc | Rất thoát nước, củ dễ đào | Tưới nhiều hơn mùa khô, bón hữu cơ dày để giữ ẩm và dinh dưỡng |
| Đất đồi trọc bạc màu | Lớp mặt mỏng, nhiều sỏi, cỏ tranh, sim mua | Rẻ, sẵn, ít bị úng | Cải tạo nhiều vụ, chỉ dùng phần tầng đất dày nhất, chống xói triệt để |
Kiểu thứ hai, đất trên đá cát, gần với đất cát pha của vùng gốc hơn cả về độ thoát nước, nhưng lại thiếu dinh dưỡng và khô nhanh trong những tháng hanh. Kiểu thứ nhất giàu hơn nhưng nặng. Không có kiểu nào hoàn hảo; điều quan trọng là biết đất mình đang thiếu gì để bù đúng chỗ, thay vì bón theo công thức của nơi khác.
Một lưu ý nữa là đất đồi vừa phá rừng trồng keo, nhiều gốc rễ cũ mục trong đất, có thể là nơi ẩn của mối và một số nấm. Nên dọn rễ cũ kỹ khi làm đất và theo dõi mối ở luống thử năm đầu.
Câu hỏi thường gặp
Đất đồi feralit có trồng được sâm thổ hào không?
Thường trồng được vì đất đồi thoát nước tốt, đúng tính ưa ráo của cây. Nhưng đất feralit thường chua và nghèo mùn, nên cần kiểm độ chua, bón vôi vừa phải nếu cần, bón nhiều hữu cơ và làm luống ngang sườn để chống xói.
Đất chua thế nào thì cần bón vôi?
Cần đo trước bằng que thử, máy đo hoặc nhờ khuyến nông. Sâm thổ hào thường hợp đất hơi chua đến gần trung tính; đất chua rõ rệt hơn mức đó mới cần vôi. Lượng vôi tuỳ loại đất, nên hỏi cán bộ khuyến nông và thử trên một luống trước.
Có thể bón vôi cùng lúc với phân chuồng không?
Không nên bón vôi cùng lúc với phân chuồng tươi hay phân đạm, vì dễ làm mất đạm và hại rễ non. Thường bón vôi khi làm đất, trộn đều, vài tuần sau mới bón lót phân hữu cơ hoai rồi trồng.
Đồi đang trồng keo, chè có chuyển một phần sang sâm được không?
Được nếu chỉ chuyển một phần nhỏ để thử, chọn khoảnh sườn giữa đất dày, ít sỏi. Không nên phá cả vườn chè hay rừng keo đang cho thu nhập để chuyển ồ ạt. Kiểm cả quy định về loại đất với xã trước khi chuyển đổi.
Làm sao biết đường đồng mức để đắp luống?
Dùng thước chữ A tự làm bằng ba thanh tre và quả dọi, hoặc ống nhựa trong đổ nước làm thước thăng bằng. Cắm cọc từng đoạn có cùng độ cao, nối thành đường ngang sườn rồi đắp luống uốn theo đường đó.
Củ sâm trên đất đồi bị cong queo, nhiều rễ xơ là vì sao?
Thường do đất chặt, nhiều sỏi hoặc tầng mặt mỏng làm củ khó phình đều, cũng có khi do thiếu hữu cơ. Làm đất sâu hơn, nhặt sỏi đá, bón hữu cơ dày và giữ đất tơi qua nhiều vụ thì củ thường đẹp dần lên.