Ở Nam Bộ, sâm thổ hào thường được ươm cây con vào cuối mùa khô (khoảng tháng 3 – 4, có tưới) và trồng ra luống vào đầu mùa mưa (khoảng tháng 5 – 6) khi mưa đã đều; củ thường được đào vào mùa khô, khoảng tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Nơi chủ động được nước tưới có thể chọn lịch thứ hai: trồng vào cuối mùa mưa để né những tháng mưa dầm dễ úng.
Lịch ở miền Nam không dựa vào mùa đông như miền Bắc mà dựa vào hai mùa mưa và khô. Mốc tháng trong bài là khoảng thường gặp, năm nào mưa sớm hay muộn thì phải dời theo. Bài đi qua hai lịch chính, việc vườn từng tháng, chỗ dễ sai và cách chỉnh lịch cho Đông Nam Bộ, vùng lũ đầu nguồn và vùng ven biển nhiễm mặn.
Hai lịch xuống giống và cách chọn
Lịch thứ nhất, cũng là lịch phổ biến: trồng đầu mùa mưa. Cây con được ươm trong bầu từ cuối mùa khô, có tưới, đến khi mưa đã đều vài tuần thì đem ra luống. Ưu điểm là cây con được nước trời tưới giúp, bén rễ nhanh, đỡ công tưới. Nhược điểm là cây phải đi qua những tháng mưa dầm khi còn non, nếu luống thấp hoặc đất giữ nước thì nguy cơ thối gốc cao.
Lịch thứ hai: trồng cuối mùa mưa, khoảng tháng 10 – 11, khi mưa thưa dần. Cây có vài tuần đất ẩm tự nhiên để bén rễ, sau đó bước vào mùa khô và phải tưới đều. Ưu điểm là tránh được đỉnh mưa, cây ít bệnh; nhược điểm là phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước tưới trong nhiều tháng. Lịch này chỉ hợp với nơi có giếng, ao hoặc hệ thống tưới ổn định.
Cách chọn đơn giản: đất thoát nước tốt và nước tưới thiếu thì nghiêng về lịch thứ nhất; đất hơi nặng, dễ đọng nước nhưng có nước tưới chủ động thì nghiêng về lịch thứ hai. Nếu chưa chắc, có thể chia luống thử thành hai nửa trồng theo hai lịch để tự so sánh trong cùng điều kiện đất.
Dù chọn lịch nào, việc ươm cây con nên bắt đầu sớm hơn ngày trồng chừng một hai tháng, tùy cây ươm từ hạt hay từ mầm củ. Kỹ thuật ươm chi tiết có ở danh mục giống, hạt và ươm cây con của trang.
Việc vườn theo tháng ở Nam Bộ
Bảng dưới theo lịch thứ nhất (trồng đầu mùa mưa) và tính cho một năm khí hậu bình thường. Năm mưa sớm hay muộn, hạn kéo dài hay mưa trái mùa thì dời theo thực tế.
| Khoảng tháng | Thời tiết thường gặp | Việc chính trong vườn sâm |
|---|---|---|
| Tháng 1 – 2 | Khô, nắng, đêm hơi mát, gió bấc | Đào củ những luống đã đủ tuổi; chọn và giữ củ giống; dọn luống cũ, phơi đất |
| Tháng 3 – 4 | Nóng nhất năm, khô hạn | Gieo hạt hoặc ươm mầm củ trong bầu dưới lưới che, tưới đều; ủ phân, chuẩn bị luống mới |
| Tháng 5 | Mưa giông đầu mùa, chưa đều | Làm đất, lên luống, đào rãnh thoát; chưa trồng vội khi mưa còn thất thường |
| Tháng 6 – 7 | Mưa đã đều | Trồng cây con ra luống vào ngày râm mát; dặm cây chết; làm cỏ lần đầu |
| Tháng 8 – 10 | Mưa nhiều, có đợt mưa dầm | Khơi rãnh, vun luống, theo dõi thối gốc; tỉa bớt lá gốc úa; hạn chế xới khi đất ướt |
| Tháng 11 | Mưa thưa dần, có triều cường ở vùng thấp | Bón thúc hữu cơ, tủ gốc chuẩn bị mùa khô; thu quả chín để lấy hạt |
| Tháng 12 | Bắt đầu mùa khô | Tưới giữ ẩm hoặc để cây nghỉ tùy cách chọn; theo dõi sâu hại trên cây xanh |
Với lịch thứ hai, hàng tháng 10 – 11 sẽ là lúc trồng, còn các tháng 12 – 4 là giai đoạn tưới đều để cây con vượt qua mùa khô đầu tiên.
Vì sao không nên trồng giữa mùa mưa dầm
Nhiều người thấy mưa nhiều thì nghĩ đất ẩm, trồng gì cũng dễ sống, nên đem cây con ra luống vào tháng 8, tháng 9. Với sâm thổ hào, đây là thời điểm dễ mất cây nhất. Cây con mới trồng có bộ rễ yếu, vết thương ở rễ khi tách bầu chưa lành, nếu đất bão hoà nước nhiều ngày liền thì rễ thiếu không khí, nấm trong đất dễ xâm nhập qua vết thương và gây thối gốc.
Thêm nữa, mưa dầm kéo dài nhiều ngày ít nắng làm cây vống, lá mỏng, sức chống chịu kém. Người trồng cũng khó làm cỏ, khó vun luống vì đất nhão, giẫm vào là nén chặt. Kết quả thường thấy là tỷ lệ cây sống thấp, phải dặm lại nhiều lần, cây dặm sau thì lệch lứa với cây trước.
Nếu buộc phải trồng trong giai đoạn này, ví dụ vì cây con đã quá lứa trong bầu, thì nên lên luống cao hơn bình thường, chọn ngày ngớt mưa, trồng nông vừa đủ lấp bầu, không tưới thêm và khơi rãnh thoát nước ngay sau khi trồng. Theo dõi kỹ hai tuần đầu, thấy cây héo rũ dù đất ướt là dấu hiệu rễ có vấn đề, nên nhổ cây đó ra xa luống để hạn chế lây lan.
Trồng đầu mùa khô thì phải lo nước
Có nguồn nước cho đủ năm sáu tháng không? Mùa khô ở Nam Bộ thường kéo dài từ tháng 12 tới tháng 4. Trồng vào cuối mùa mưa đồng nghĩa với việc cây con sống nhờ nước tưới gần như suốt giai đoạn đầu. Trước khi chọn lịch này, nên ước lượng xem giếng hay ao của mình có còn nước vào tháng 3, tháng 4 hay không.
Tưới theo nhịp nào? Cây mới trồng cần đất ẩm đều nhưng không sũng. Trên đất xám nhẹ, giai đoạn đầu thường phải tưới hằng ngày hoặc cách ngày; trên đất đỏ giữ ẩm tốt hơn thì thưa hơn. Cách kiểm đơn giản là bóp nắm đất ở độ sâu vài phân: còn ẩm, vo lại được mà không chảy nước là vừa.
Tủ gốc ngay từ đầu. Rơm, cỏ khô, lá khô, vỏ trấu phủ lên mặt luống giúp giảm bốc hơi, giữ đất mát và hạn chế cỏ. Để chừa một khoảng nhỏ quanh gốc, không phủ sát thân cây để tránh ẩm đọng ở cổ rễ.
Che nhẹ vài tuần đầu. Cây con mới trồng vào lúc nắng bắt đầu gắt có thể héo trưa. Một tấm lưới che thưa hoặc vài cành lá cắm phía tây luống trong vài tuần đầu giúp cây qua giai đoạn bén rễ, sau đó nên bỏ che dần.
Đào củ vào mùa khô: thuận và vướng
Đào củ vào mùa khô có nhiều cái lợi. Đất ráo nên tơi, củ ra sạch, ít gãy hơn so với đào trong đất nhão. Trời nắng thuận cho việc rửa, phơi hoặc để ráo củ. Người trồng cũng rảnh tay hơn vì mùa khô ít việc chăm. Nhiều nhà vườn miền Nam chọn đào vào khoảng tháng 1 – 3, sau khi cây đã đi hết một mùa mưa.
Vướng thứ nhất là đất quá khô cứng ở những lô không tưới, nhất là đất đỏ: xẻng đâm xuống dễ cắt ngang củ. Cách xử lý thường thấy là tưới ẩm luống một hai ngày trước khi đào để đất mềm lại. Vướng thứ hai là nếu cây đã được tưới giữ xanh qua mùa khô, có người muốn để thêm vài tháng cho củ to; khi đó cần tính tới việc nếu chưa đào trước khi mưa đều trở lại, củ già trong đất ẩm có thể bị thối hoặc xơ.
Một cách làm hay gặp là đào cuốn chiếu: đào thử vài gốc vào đầu mùa khô, xem củ đã đạt chưa, rồi đào dần trong vài tuần. Củ nhỏ, mầm gốc khỏe có thể giữ lại làm giống cho vụ sau. Cách đào, rửa, phơi chi tiết có ở danh mục thu hoạch và tính toán một vụ.
Chỉnh lịch theo vùng của anh chị
Nam Bộ rộng và mỗi vùng có nhịp nước riêng. Một vài điều chỉnh thường gặp:
- Đông Nam Bộ đất cao (Đồng Nai, Tây Ninh, vùng Bình Dương và Bà Rịa cũ nay thuộc TP.HCM): mùa khô thường gắt và dài hơn, nên lịch đầu mùa mưa dễ áp dụng nhất; đào củ có thể kéo tới tháng 4.
- Vùng lũ đầu nguồn miền Tây (An Giang, Đồng Tháp): mùa nước nổi thường lên từ khoảng tháng 8 tới tháng 11; luống phải nằm trên chỗ chưa từng bị ngập, hoặc trồng sớm để cây đã cứng trước khi nước lên. Nhiều nơi chỉ nên trồng trong thùng đặt chỗ cao.
- Vùng ven biển và cửa sông (Vĩnh Long, Cà Mau, Cần Thơ phía Sóc Trăng cũ): nước mặn thường lấn sâu từ khoảng tháng 2 tới tháng 4; cần trữ nước ngọt từ cuối mùa mưa và không nên trồng mới vào lúc mặn cao nhất.
- Vùng đô thị trồng thùng, chậu: không bị ngập ruộng nhưng chịu mưa giông mạnh; lịch có thể linh hoạt hơn, chỉ cần tránh trồng mới vào tháng nóng nhất nếu không che được.
Mốc tháng mặn, lũ, triều cường mỗi năm một khác. Nên theo dõi thông báo của cơ quan khí tượng thủy văn và khuyến nông địa phương để dời lịch cho đúng.
Ghi nhật ký để vụ sau sửa lịch cho đúng
Lịch hay nhất là lịch rút ra từ chính vườn nhà anh chị. Một quyển sổ hoặc ghi chú trên điện thoại là đủ:
- Ghi ngày gieo hạt hoặc ươm mầm, ngày cây nhú, ngày đem trồng.
- Ghi những ngày mưa lớn, ngày đất đọng nước trên luống và bao lâu thì rút.
- Ghi đợt nắng hạn dài, số lần tưới mỗi tuần trong mùa khô.
- Ghi ngày cây ra nụ, ra hoa đầu tiên, ngày thu quả lấy hạt.
- Ghi số cây chết, cây bị thối gốc, sâu hại xuất hiện vào tháng nào.
- Khi đào củ, ghi tuổi cây, chiều dài và độ mập của vài củ mẫu, có củ thối hay không.
- Cuối vụ, đặt sổ cạnh bảng tháng ở trên, khoanh lại chỗ lệch giữa dự kiến và thực tế, rồi sửa lịch cho vụ sau.
Nếu trong xóm có vài nhà cùng trồng thử, so sổ với nhau sau mỗi vụ là cách nhanh nhất để thấy lịch nào hợp với vùng. Hai vườn cách nhau vài cây số có thể khác nhau cả tháng về thời điểm mưa thấm đất, nhất là giữa chỗ đất cao và chỗ đất thấp gần sông rạch.
Sau hai ba vụ, anh chị sẽ có lịch riêng cho lô đất của mình, sát hơn mọi lịch chung trên sách vở. Lịch đó cũng là tài sản để truyền lại cho người làm cùng, vì nó ghi được những điều mà trí nhớ thường bỏ sót sau một năm.
Câu hỏi thường gặp
Có thể trồng sâm thổ hào quanh năm ở miền Nam không?
Về lý thuyết cây không bị lạnh nên tháng nào cũng có thể trồng nếu chủ động được nước và thoát nước. Thực tế trồng vào giữa mùa mưa dầm dễ thối gốc, trồng giữa mùa khô thì tốn công tưới và cây con dễ héo. Vì vậy phần lớn nhà vườn chỉ trồng vào đầu hoặc cuối mùa mưa.
Gieo hạt sâm thổ hào ở Nam Bộ vào tháng mấy?
Thường gieo vào khoảng tháng 3 – 4 trong khay hoặc bầu, đặt dưới lưới che và tưới đều, để đến đầu mùa mưa có cây con đủ lớn đem trồng. Nếu theo lịch trồng cuối mùa mưa thì lùi thời gian gieo tương ứng. Hạt cần được thu từ quả chín và cất khô, sạch.
Mưa trái mùa giữa mùa khô có ảnh hưởng gì không?
Mưa trái mùa thường giúp cây đỡ khô, nhưng nếu đúng lúc đang đào củ thì đất nhão, củ dính bùn và khó phơi. Sau mưa trái mùa cũng nên kiểm tra luống, khơi rãnh nếu nước đọng, vì đất đã nén chặt sau thời gian khô có thể thoát nước chậm hơn.
Mùa khô không tưới thì cây có chết không?
Cây đã trồng được vài tháng, củ đã hình thành thường không chết mà rụng lá và nghỉ, đầu mùa mưa sẽ mọc lại từ gốc. Cây con mới trồng thì khác, thiếu nước vài tuần là dễ chết. Nếu nước ít, nên ưu tiên tưới cho cây con và luống giống.
Năm nay mưa đến muộn thì có nên trồng theo lịch cũ không?
Không nên trồng theo ngày trên lịch khi mưa chưa đều. Nên giữ cây con trong bầu, tưới duy trì, chờ đến khi có vài trận mưa thấm sâu và đất ẩm ổn định rồi mới đem trồng. Cây trong bầu quá lâu có thể bị cuốn rễ, nên ươm vừa đủ và tính dư thời gian chờ.
Vùng hay bị triều cường cuối năm có cần đào củ sớm không?
Nếu luống có nguy cơ bị nước tràn vào lúc triều cường cao, nên đào thử từ trước đỉnh triều để xem củ đã đạt chưa, củ đủ thì đào sớm, củ chưa đủ thì đắp bờ và khơi mương thoát. Lâu dài, chỗ hay bị triều tràn không phải là chỗ hợp để trồng sâm thổ hào ngoài đất.