Tủ gốc cho sâm thổ hào là phủ lên mặt luống một lớp rơm, cỏ khô, lá cây, trấu, xơ dừa hoặc màng phủ để giữ ẩm, làm mát đất, hạn chế cỏ mọc và ngăn mưa bắn đất lên lá. Với đất cát và mùa nắng, đây là một trong những việc rẻ mà hiệu quả nhất; nguyên tắc là phủ dày vừa phải, chừa một khoảng nhỏ quanh thân cho gốc khô thoáng.
Tủ gốc cũng có mặt trái: chuột, dế, ốc sên thích trú dưới lớp phủ; lớp phủ dày ẩm sát gốc trong mùa mưa có thể làm cổ rễ thối. Vì vậy cách tủ phải đổi theo mùa. Bài này so sánh các vật liệu thường có ở nông thôn Việt Nam, hướng dẫn cách phủ, và nói rõ những trường hợp nên bớt hoặc gỡ lớp tủ.
Tủ gốc làm được gì cho ruộng sâm
Giữ ẩm. Lớp phủ che mặt đất khỏi nắng và gió, giảm lượng nước bay hơi. Trên đất cát, khác biệt rất rõ: luống có tủ thường giữ được ẩm lâu hơn hẳn luống để trần, khoảng cách giữa hai lần tưới giãn ra.
Làm mát đất. Mặt cát trần giữa trưa nắng nóng có thể nóng tới mức sờ tay không được. Lớp tủ giữ cho tầng đất quanh cổ rễ và củ non mát hơn, cây ít bị sốc nhiệt.
Hạn chế cỏ. Hạt cỏ cần ánh sáng để nảy mầm; một lớp phủ đủ dày chặn phần lớn cỏ mọc từ hạt. Cỏ mọc từ thân ngầm như cỏ tranh, cỏ gấu thì vẫn đâm xuyên được, phải nhổ tay.
Giảm bắn đất lên lá. Khi mưa to rơi trên đất trần, hạt mưa làm đất bắn lên mặt dưới lá già. Đất đó mang theo bào tử nấm từ mặt ruộng. Lớp phủ giảm đáng kể đường lây này.
Chống xói và cát bay. Trên đất dốc, tủ gốc làm nước mưa chảy chậm lại, đỡ trôi đất mặt. Trên đất cát gió mạnh, lớp phủ giữ cát không bay vùi lấp cây con.
Thêm chất hữu cơ. Rơm, lá, cỏ mục dần thành mùn. Sau một vụ, phần tủ còn lại có thể vùi vào đất khi làm luống cho vụ sau, đất tơi và giữ ẩm tốt hơn.
So sánh các vật liệu tủ gốc thường có
Chọn vật liệu sẵn có, rẻ ở chỗ anh chị trước, sau đó mới xét ưu nhược. Vận chuyển vật liệu từ xa thường làm tủ gốc mất ý nghĩa tiết kiệm.
| Vật liệu | Điểm mạnh | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Rơm rạ | Nhẹ, thoáng, sẵn ở vùng trồng lúa, phủ nhanh | Có thể lẫn hạt lúa, hạt cỏ; rơm từ ruộng vừa phun thuốc trừ cỏ có thể còn tồn dư |
| Cỏ khô phơi héo | Có ngay tại chỗ, không tốn tiền | Phải phơi khô kỹ và không dùng cỏ đã ra hạt, nếu không là gieo cỏ lên luống |
| Lá cây khô | Phân huỷ thành mùn tốt | Lá to dễ dính bết thành lớp kín khi ướt, cần trộn với rơm cho thoáng |
| Vỏ trấu, trấu hun | Sạch, ít hạt cỏ, phủ đều | Nhẹ, dễ bị gió và nước cuốn; trấu tươi phân huỷ chậm |
| Xơ dừa, mụn dừa | Giữ ẩm rất tốt | Cần xả chát trước; giữ ẩm quá tốt nên mùa mưa phải bớt |
| Bã mía khô | Sẵn ở vùng mía, dày, bền | Có thể lên men, hút đạm khi mục; không phủ sát gốc |
| Màng phủ nông nghiệp | Chặn cỏ gần như hoàn toàn, giữ ẩm đều | Tốn tiền, nóng đất trong nắng gắt, khó bón thúc, phải thu gom rác nhựa sau vụ |
Với ruộng sâm thổ hào nhỏ và vừa, vật liệu hữu cơ tại chỗ như rơm, cỏ khô thường hợp hơn cả. Màng phủ chủ yếu đáng cân nhắc ở ruộng lớn, tưới nhỏ giọt, cỏ dại nhiều và không đủ người làm cỏ.
Cách phủ rơm, cỏ, lá cho đúng
Làm theo thứ tự này để lớp tủ phát huy tác dụng mà không gây hại cho cổ rễ.
- Làm sạch cỏ trên mặt luống trước khi phủ. Phủ đè lên cỏ đang sống không làm cỏ chết hẳn, cỏ chỉ vươn lên tìm sáng.
- Tưới ẩm đất nếu đất đang khô. Tủ gốc giữ lại độ ẩm sẵn có; phủ lên đất khô cong thì giữ lại cái khô.
- Rải lớp phủ đều trên mặt luống, dày vừa đủ che kín mặt đất, thường vài phân với rơm hay cỏ. Lớp quá mỏng không giữ ẩm, quá dày thì ngột và lâu khô sau mưa.
- Chừa một vòng nhỏ khoảng vài phân quanh thân mỗi cây không phủ. Cổ rễ cần khô thoáng, không để vật liệu ẩm áp sát thân.
- Ở nơi gió mạnh, ép mép lớp phủ bằng ít đất hoặc vài nhánh tre dọc luống để rơm không bay.
- Theo dõi và bổ sung khi lớp phủ mục, mỏng đi. Thường sau vài tháng phải thêm một lượt.
Khi bổ sung, không cần cào bỏ lớp cũ nếu nó còn khô, chỉ rải thêm lên trên. Lớp dưới đang mục dần thành mùn sát mặt đất, có ích cho đất. Chỉ cào bỏ phần mục nát ướt sát gốc cây.
Với luống trồng hàng đôi có ống nhỏ giọt ở giữa, có thể phủ đè lên ống để che nắng cho ống, ống bền hơn và nước trong ống không bị nóng; chỉ cần nhớ đánh dấu đầu ống để dễ kiểm tra khi tắc.
Ước lượng vật liệu cho một lô
Trước khi đi gom rơm hay mua trấu, nên ước lượng xem cần bao nhiêu để khỏi phủ dở dang. Cách tính đơn giản: lấy tổng diện tích mặt luống, không tính rãnh, nhân với độ dày lớp phủ anh chị muốn, ra thể tích vật liệu ở trạng thái đã nén nhẹ trên luống.
Ví dụ giả định: một lô có hai mươi luống, mỗi luống dài 25 m, mặt rộng 1 m, tổng mặt luống là 500 m². Nếu phủ dày khoảng 5 cm, thể tích cần là khoảng 25 m³ vật liệu đã nén. Rơm, cỏ khô xốp lúc chưa nén chiếm thể tích lớn hơn nhiều, nên lượng phải gom thực tế còn nhiều hơn con số này. Con số chỉ để hình dung quy mô; anh chị đo kích thước lô của mình và thử phủ một luống trước để biết một luống tốn bao nhiêu xe, bao nhiêu bó.
Phép thử một luống còn giúp anh chị biết công phủ: bao nhiêu người, bao lâu cho một luống. Từ đó tính ra phủ cả lô hết bao nhiêu buổi, chọn thời điểm phủ trước đợt nắng nóng chứ không phải giữa đợt.
Nếu vật liệu không đủ cho cả lô, ưu tiên phủ những luống ở chỗ cao, khô, đất cát nhiều, cây con mới trồng; những luống đất thịt, chỗ thấp có thể phủ mỏng hoặc chưa phủ.
Màng phủ nông nghiệp: khi nào đáng dùng
Màng phủ là tấm nhựa mỏng trải kín mặt luống, đục lỗ để trồng cây. Loại phổ biến có hai mặt: mặt đen úp xuống để chặn ánh sáng, cỏ không mọc; mặt bạc hướng lên để phản xạ nắng, giữ cho đất bên dưới không quá nóng. Nhiều nhà vườn cho rằng mặt bạc phản quang còn làm một số côn trùng chích hút như rệp, bọ trĩ ít đậu hơn, nhưng mức độ hiệu quả tuỳ điều kiện từng nơi.
Muốn dùng màng phủ cho sâm thổ hào, gần như phải đi kèm tưới nhỏ giọt đặt dưới màng, vì tưới trên màng thì nước không xuống được. Phân lót phải bón đủ trước khi trải màng, vì bón thúc sau đó rất bất tiện: phải bón qua lỗ trồng hoặc hoà vào nước tưới. Lỗ trồng nên khoét vừa đủ, không quá to để cỏ không mọc lên, cũng không bó sát thân.
Mặt trái lớn nhất là rác nhựa. Sau vụ, màng rách nát, dính đất, nếu bỏ lại trong ruộng thì những mảnh nhựa nằm lẫn trong đất nhiều năm, vướng vào củ của vụ sau. Phải thu gom hết sau mỗi vụ và đem tới nơi thu gom rác, tuyệt đối không đốt ngoài ruộng vì khói nhựa độc.
Ở vùng nắng rất gắt, màng phủ đen hoàn toàn có thể làm đất quá nóng. Ở vùng mưa nhiều, nước mưa chảy trên mặt màng dồn hết xuống rãnh rất nhanh, rãnh phải đủ rộng. Vì những lý do này, nên thử màng phủ trên một vài luống và so với luống tủ rơm trước khi dùng cho cả ruộng.
Tủ gốc theo mùa
Mùa khô, nắng gió. Đây là lúc tủ gốc có ích nhất. Phủ đủ dày, bổ sung kịp khi lớp tủ mỏng đi. Trên đất cát ven biển hay nội đồng, tủ gốc cùng với tưới đều quyết định phần lớn chất lượng củ trong mùa nắng.
Đầu mùa mưa. Kéo bớt lớp tủ ra khỏi vùng sát gốc, làm mỏng lớp phủ trên mặt luống, để đất khô nhanh sau mỗi trận mưa. Không cần gỡ hết, vì lớp phủ mỏng vẫn có ích trong việc giảm bắn đất lên lá.
Giữa mùa mưa dầm. Nếu lớp tủ ướt sũng, đóng thành lớp kín, bốc mùi mốc, nên cào bỏ phần đó ra rãnh hoặc ra ngoài ruộng. Lớp tủ mục nát ở thời điểm này giữ ẩm quá mức cho cổ rễ.
Trước khi đào củ. Gom lớp tủ còn lại ra khỏi luống vài ngày trước khi đào để mặt đất ráo, dễ thấy gốc và dễ xới. Vật liệu gom ra có thể ủ thành phân cho vụ sau, trừ phần lấy từ những luống bị bệnh nặng thì đem ra xa ruộng.
Những rắc rối có thể đến từ lớp tủ
Biết trước những mặt trái này để xử lý kịp, không phải bỏ hẳn tủ gốc.
- Chuột, sóc làm tổ hoặc trú dưới lớp phủ dày rồi đào củ; ruộng gần bờ bụi càng dễ gặp. Giữ lớp tủ vừa phải và dọn sạch bờ ruộng giúp giảm nơi trú.
- Dế, sâu xám, ốc sên ẩn dưới tủ ban ngày, đêm ra cắn cây con. Lật kiểm tra lớp tủ vào sáng sớm vài ngày đầu sau khi phủ.
- Mối có thể ăn rơm, lá và lan sang cây, nhất là trên đất đồi khô. Nếu thấy đường mối, dọn vật liệu đó đi và hỏi khuyến nông.
- Hạt cỏ, hạt lúa lẫn trong rơm, cỏ phủ nảy mầm thành một lứa cỏ mới. Phơi khô kỹ và chọn rơm sạch.
- Rơm, cỏ lấy từ ruộng vừa phun thuốc trừ cỏ có thể còn tồn dư, làm cây sâm vàng, xoăn lá. Hỏi rõ nguồn trước khi lấy.
- Vật liệu chưa khô, chưa ủ khi mục có thể nóng lên và hút đạm của đất. Dùng vật liệu đã khô và không vùi chúng sát gốc.
Hầu hết các rắc rối này xử lý được bằng cách giữ lớp tủ vừa phải, chừa gốc và kiểm tra thường xuyên, không cần từ bỏ tủ gốc.
Câu hỏi thường gặp
Tủ gốc cho sâm thổ hào dày bao nhiêu là vừa?
Với rơm hay cỏ khô, thường chỉ cần dày vài phân, đủ che kín mặt đất khi nhìn từ trên xuống. Lớp quá dày dễ ngột, lâu khô sau mưa và thành nơi trú cho chuột, dế. Mùa mưa nên làm mỏng hơn mùa khô.
Có nên tủ gốc ngay khi vừa trồng cây con không?
Có thể phủ một lớp mỏng ngay sau khi trồng để giữ ẩm, chừa khoảng trống quanh thân. Khi cây đã bén rễ và lớn hơn, bổ sung dần cho đủ dày. Cây con quá nhỏ thì tránh phủ vật liệu nặng đè lên lá.
Dùng lá cây xà cừ, lá bàng tủ gốc có được không?
Lá cây thông thường đều dùng được nếu phơi khô và trộn với rơm cho thoáng. Lá to dày dễ dính thành tấm kín khi ướt. Tránh dùng lá từ cây bệnh hoặc lá vừa phun thuốc.
Màng phủ nông nghiệp có dùng lại được vụ sau không?
Màng dày, còn nguyên vẹn sau vụ đôi khi dùng lại được một vụ nữa nếu gỡ cẩn thận và cất trong bóng râm. Phần lớn màng mỏng đã giòn rách sau một vụ nắng, phải thu gom và xử lý như rác nhựa.
Tủ gốc có thay được việc làm cỏ không?
Tủ gốc giảm đáng kể cỏ mọc từ hạt nhưng không chặn được cỏ mọc từ thân ngầm, củ như cỏ tranh, cỏ gấu. Vẫn phải đi nhổ cỏ định kỳ, nhưng số lần và công sức thường ít hơn rõ rệt.
Vật liệu tủ gốc cũ cuối vụ xử lý thế nào?
Phần còn tốt có thể gom lại ủ cùng phân chuồng thành phân hữu cơ cho vụ sau. Phần dính đất mục nát có thể vùi vào đất khi làm luống. Vật liệu từ luống bị bệnh nặng thì đem ra xa ruộng, không ủ chung.