Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trồng được sâm thổ hào và có điều kiện gần vùng gốc hơn phần lớn miền Bắc: mùa đông có rét nhưng ngắn hơn, dải cát ven biển thoát nước tốt. Đổi lại, người trồng phải qua ba thử thách nối nhau trong năm: rét và mưa phùn cuối đông, gió Lào khô nóng đầu hè, và mưa bão dồn dập cuối mùa. Chọn đúng dải đất và sắp lịch để cây khoẻ nhất khi gặp từng thử thách là chìa khoá.
Bắc Trung Bộ ở đây chỉ gồm ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; vùng cát Quảng Trị (gồm Quảng Bình cũ) và Huế có chuyên mục riêng. Ba tỉnh này dài và hẹp, từ biển lên núi chỉ một quãng ngắn, nên trong cùng một tỉnh có đủ cát ven biển, đồng bằng hẹp và đồi núi phía tây. Bài này đi qua từng dải đất và từng mùa để anh chị biết mảnh đất của mình đang đứng ở đâu.
Vùng giao giữa mùa đông miền Bắc và gió Lào miền Trung
Về khí hậu, Bắc Trung Bộ là vùng chuyển tiếp. Mùa đông vẫn chịu gió mùa đông bắc, có những đợt rét và mưa phùn giống Bắc Bộ, nhưng thường ngắn hơn và nhẹ hơn khi đi dần về phía nam. Sang đầu hè, gió tây khô nóng thổi từ bên kia dãy Trường Sơn sang, người dân quen gọi là gió Lào, làm không khí khô và nóng rát, đất mất nước rất nhanh. Rồi từ cuối hè sang thu, mưa lớn và bão, áp thấp nhiệt đới tập trung, nhiều năm gây ngập lụt.
Với sâm thổ hào, điều đó có nghĩa là cây không có một mùa yên ổn kéo dài. Đầu năm phải giữ củ qua rét và nồm, vừa ra lá xuân đã phải chống gió Lào, củ đang tích lũy giữa mùa thì gặp mưa bão. Mỗi thử thách riêng lẻ đều xử lý được; khó là chúng nối nhau, cây chưa kịp hồi sức sau đợt này đã sang đợt khác.
Cái lợi là mùa ấm dài hơn đồng bằng Bắc Bộ một chút, và vùng cát ven biển có tính chất đất gần với vùng gốc. Người trồng ở đây có thể học nhiều từ kinh nghiệm vùng Quảng Trị, đồng thời giữ những thói quen chống rét, chống nồm của người miền Bắc.
Ba dải đất từ biển lên núi
Mỗi tỉnh trong ba tỉnh đều có ba dải đất chính. Bảng dưới gom đặc điểm chung; mảnh đất cụ thể của anh chị còn tuỳ vào vị trí trong dải.
| Dải đất | Đặc điểm thường gặp | Thuận lợi cho sâm | Điều phải làm |
|---|---|---|---|
| Cát và cát pha ven biển | Thoát nước rất nhanh, nghèo dinh dưỡng, nóng mặt khi nắng, gió mạnh | Ít úng, củ dễ đào, gần vùng gốc nhất | Bón nhiều hữu cơ, tủ gốc dày, hàng rào chắn gió, chủ động nước tưới |
| Đồng bằng hẹp ven sông | Phù sa, thịt nhẹ đến trung bình, có nơi trũng ngập mùa lũ | Màu mỡ, gần nước | Chỉ chọn đất cao, luống cao, mương thoát nước trước mùa mưa bão |
| Đồi núi phía tây | Đất đồi đỏ vàng, dốc, mùa đông lạnh hơn, gió Lào mạnh ở một số thung lũng | Thoát nước tốt, đất dày ở sườn giữa | Cải tạo đất chua, luống đồng mức, chọn sườn ấm |
Nhiều hộ ở vùng ven biển ba tỉnh này đã quen trồng lạc, khoai lang, vừng trên đất cát. Những mảnh đất đó, nếu có nước tưới vào mùa khô, thường là chỗ thử sâm thổ hào hợp lý nhất. Đất trũng ven sông, nơi hay ngập trong mùa mưa bão, thì nên tránh hẳn.
Đồng bằng ven sông Mã, sông Chu, sông Lam: tìm chỗ cao ráo
Đồng bằng ba tỉnh này nhỏ hẹp hơn đồng bằng sông Hồng, phần lớn được bồi bởi các sông lớn như sông Mã, sông Chu ở Thanh Hóa, sông Lam ở Nghệ An, và các sông ngắn, dốc ở Hà Tĩnh. Sông ngắn và dốc thì lũ lên nhanh, rút cũng nhanh, nhưng trong vài ngày lũ, những cánh đồng thấp có thể ngập sâu. Đó là điều người trồng sâm phải tính trước tiên khi chọn đất ở đồng bằng nơi đây.
Những chỗ đáng thử thường là đất vườn quanh nhà đã tôn cao, các doi đất cao ven làng, bãi màu cao đã trồng lạc, ngô nhiều năm không ngập. Hỏi người lớn tuổi trong xóm về những trận lụt lớn gần đây, nước lên tới đâu, rồi chọn chỗ cao hơn mốc đó. Đất phù sa ở đây cũng cần lên luống cao, mương sâu và nhiều hữu cơ như đất đồng bằng Bắc Bộ, chỉ khác là mùa ngập rơi muộn hơn, vào cuối hè và mùa thu.
Gió Lào đầu hè: giữ ẩm cho cây đang lớn
Gió Lào thường đến khi cây vừa qua giai đoạn cây con, lá đang mở rộng, rễ chưa ăn sâu. Những ngày gió Lào, lá có thể héo rũ giữa trưa, mép lá cháy khô. Chuẩn bị trước theo thứ tự:
- Trồng sớm vừa đủ để khi gió Lào đến cây đã có bộ rễ khá, không còn là cây con mới ra ngôi.
- Trồng hoặc giữ hàng cây chắn gió phía tây, tây nam của khoảnh sâm: phi lao, cây bụi thấp, hàng rào tre nứa.
- Phủ tủ dày trên mặt luống trước mùa gió, rơm rạ, cỏ khô, vỏ lạc là những vật liệu sẵn có ở vùng này.
- Tưới vào sáng sớm và chiều muộn khi gió đã dịu, tưới thấm gốc; không tưới giữa trưa nắng gắt.
- Với luống nhỏ, căng lưới che nắng mỏng hoặc phên tre phía tây vào những tuần gió Lào gắt nhất.
- Không bón phân đậm đặc trong những ngày khô nóng; rễ thiếu nước gặp phân dễ bị cháy.
Cây sâm thổ hào vốn chịu nắng, thấy lá héo trưa rồi tươi lại về chiều là phản ứng bình thường. Đáng lo là khi lá héo cả ngày, sáng hôm sau chưa tươi lại; lúc đó kiểm độ ẩm đất ở tầng rễ và tăng tưới, che bớt nắng.
Mưa bão cuối mùa: chuẩn bị trước tháng 8
Ở Bắc Trung Bộ, mùa mưa bão thường dồn vào khoảng cuối hè và mùa thu, có năm sớm hơn, có năm kéo dài sang đầu đông. Một cơn bão hay áp thấp có thể mang mưa lớn nhiều ngày liền, nước sông lên nhanh, đất trũng ngập. Với sâm, đây là lúc củ đang tích lũy, tán lá cao và dày, rất dễ đổ ngã khi gió giật và thối củ khi đất ngập.
Trước mùa bão, anh chị nên khơi sâu toàn bộ rãnh, nối thông ra mương lớn; vun cao gốc để cây đứng vững; tỉa bớt lá già, cành phụ để tán nhẹ, bớt cản gió; cắm cọc đỡ cho những cây cao, nhất là cây để lấy hạt. Với những ruộng thấp có nguy cơ ngập, có thể cân nhắc đào trước một phần củ đã đủ cỡ, hoặc ít nhất đào lên làm giống một số gốc đẹp nhất mang đến chỗ cao để cất.
Sau bão, khi nước rút, việc đầu tiên là thoát hết nước đọng, rồi dựng lại cây đổ, vun gốc, cắt bỏ phần gãy dập. Những gốc bị ngập lâu nên theo dõi trong vài tuần; nếu thân héo dần khi đất đã khô, bới thử xem củ còn chắc không. Nhổ bỏ gốc thối sớm để nấm không lan sang cây bên cạnh.
Mùa đông ngắn hơn, nhưng vẫn có rét
So với Hà Nội hay vùng núi phía Bắc, mùa đông ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh thường ngắn hơn, và càng vào gần đèo Ngang càng dịu. Nhưng các đợt gió mùa đông bắc mạnh vẫn kéo rét xuống đây, kèm mưa phùn, nồm ẩm. Cây sâm ở đồng bằng và ven biển ba tỉnh này thường cũng lụi bớt lá trong những tháng lạnh nhất, dù có thể không lụi hết như ở Bắc Bộ.
Việc chăm qua đông ở đây giống miền Bắc nhưng nhẹ tay hơn: dọn lá bệnh, tủ gốc vừa phải, giảm tưới, không bón đạm muộn, giữ rãnh thông thoát. Riêng vùng cát ven biển, gió bấc mùa đông có thể thổi cát bay, vùi hoặc mài trầy gốc cây; hàng rào chắn gió phía bắc, đông bắc hữu ích cả mùa đông lẫn mùa gió Lào.
Vùng đồi núi phía tây ba tỉnh này, nhất là những nơi cao, có mùa đông lạnh hơn hẳn đồng bằng, có năm sương muối. Người trồng ở đó nên đọc thêm kinh nghiệm của vùng trung du, miền núi phía Bắc thay vì áp dụng lịch của dải ven biển.
Lịch vụ gợi ý cho Bắc Trung Bộ
Lịch dưới đây là khung tham khảo cho đồng bằng và ven biển, năm thời tiết bình thường. Vùng đồi phía tây dịch muộn hơn, những năm rét muộn hay bão sớm thì điều chỉnh theo thực tế.
- Cuối đông: làm đất, ủ phân, giữ củ giống; có thể gieo khay trong nhà che vào những ngày ấm.
- Đầu xuân: gieo thẳng hoặc ra ngôi cây con khi rét đã qua, sớm hơn đồng bằng Bắc Bộ một chút.
- Cuối xuân: chăm cây con, làm cỏ, tủ gốc dày, dựng hàng chắn gió phía tây trước gió Lào.
- Đầu hè: giữ ẩm qua những đợt gió Lào, tưới sáng sớm và chiều muộn, che bớt nắng cho luống nhỏ.
- Cuối hè: theo dõi hoa và quả, thu hạt chín sớm trước mùa mưa bão, khơi rãnh, vun gốc, cắm cọc.
- Mùa thu: chống úng sau mưa bão, dựng cây đổ, kiểm củ; giảm tưới khi trời mát dần.
- Đầu đông: dọn lá bệnh, tủ gốc, đào thử vài gốc để xem cỡ củ và quyết định đào hay để thêm.
Điểm khác với Bắc Bộ là việc thu hạt: ở đây nên thu sớm những quả chín trước mùa bão, vì mưa gió lớn dễ làm quả thối, hạt nảy mầm ngay trên cây hoặc rơi mất. Hạt thu được cất khô để dành cho vụ xuân năm sau.
Vùng cát ven biển: gần vùng gốc nhưng không giống hệt
Dải cát ven biển Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh nhìn qua rất giống vùng cát Quảng Trị: cát trắng, cát vàng, rải rác những vạt phi lao, ruộng lạc, khoai. Đất cát thoát nước rất nhanh, củ sâm phình dễ, đào lên sạch, ít nứt. Đó là lý do nhiều người ở đây nghĩ ngay đến chuyện trồng sâm thổ hào.
Nhưng có hai điểm khác nên lưu ý. Thứ nhất, mùa đông ở đây lạnh hơn và ẩm hơn vùng gốc, nên cát ven biển những tháng mưa phùn vẫn có thể ẩm lâu, nhất là ở chỗ trũng giữa các cồn. Thứ hai, ở một số nơi sát biển, đất và nước ngầm có thể nhiễm mặn, nhất là những năm hạn kéo dài; nước giếng mặn tưới lên cây sẽ làm cháy lá, củ còi. Trước khi trồng, nếm thử hoặc nhờ đo độ mặn nước giếng, và hỏi người trồng lạc, trồng rau quanh đó xem có bị mặn không.
Đất cát rất nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, nên người trồng ở đây phải bón hữu cơ dày và đều hơn nhiều so với đất phù sa. Kinh nghiệm chi tiết về giữ ẩm cho đất cát có thể tham khảo thêm ở chuyên mục vùng cát Quảng Trị – Huế.
Câu hỏi thường gặp
Nghệ An, Hà Tĩnh có trồng được sâm thổ hào không?
Thường trồng được, nhất là ở dải cát pha và đồng bằng cao ráo, vì mùa đông ngắn hơn Bắc Bộ và đất cát thoát nước tốt. Cần chuẩn bị chống gió Lào đầu hè, chống úng và đổ ngã trong mùa mưa bão, và nên làm thử vài luống trước khi mở rộng.
Gió Lào có làm chết sâm thổ hào không?
Cây trưởng thành chịu nắng khá tốt, gió Lào thường làm lá héo trưa và cháy mép lá. Cây con mới trồng thì dễ chết hơn. Tủ gốc dày, hàng chắn gió phía tây, tưới sáng sớm và chiều muộn giúp cây qua những tuần khô nóng.
Trồng sâm ở đất cát ven biển Thanh Hóa cần lưu ý gì?
Bón hữu cơ dày vì cát nghèo dinh dưỡng và giữ nước kém, tủ gốc, dựng hàng rào chắn gió, chủ động nước tưới. Kiểm nước giếng có nhiễm mặn không, và tránh chỗ trũng giữa các cồn cát hay đọng nước trong mùa mưa phùn.
Mùa bão có nên đào củ sâm sớm không?
Với ruộng thấp có nguy cơ ngập, có thể đào trước một phần củ đã đủ cỡ hoặc đào lên làm giống vài gốc đẹp nhất. Ruộng cao ráo thì khơi rãnh, vun gốc, cắm cọc và để củ tích lũy tiếp sau mùa bão.
Thu hạt sâm thổ hào ở Bắc Trung Bộ vào lúc nào?
Nên thu những quả chín sớm trước mùa mưa bão, vì mưa gió lớn dễ làm quả thối hoặc hạt rơi mất. Quả chín sau mùa bão vẫn thu được nếu còn khô. Hạt thu xong phơi khô, cất nơi thoáng để dành cho vụ xuân.
Vùng núi phía tây Nghệ An trồng sâm có giống đồng bằng không?
Không hẳn. Vùng đồi núi phía tây lạnh hơn đồng bằng vào mùa đông, có năm sương muối, đất đồi chua và dốc. Nên chọn sườn ấm, cải tạo đất, làm luống đồng mức và tham khảo kinh nghiệm trồng ở trung du, miền núi phía Bắc.